Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

YÊU VỢ

Em yêu!
Đừng buồn nếu thấy anh hết lãng mạn mất rồi
Bao tháng năm bon chen với đời còn đâu hào hoa thời trai trẻ
Có bao nhiêu nhẹ nhàng, ngọt ngon đều dành cho mẹ
Thêm bao nhiêu ga lăng anh thiết đãi những cô gái lỡ bước qua đời
Trở về bên em còn mỗi cục cằn, thô lỗ, mệt mỏi nữa thôi
Vậy mà vì tình nghĩa vợ chồng em lau khô nước mắt học bao dung tha thứ
Xin lỗi vì bản tính đàn ông dã man thú dữ
Gầm rú thế thôi... trong dạ vốn dĩ yếu mềm
Chiều nay nhìn vết chân chim cuối mắt em
Anh thấy mình trăm lần mang tội
... Vậy mà khi em lo lắng anh buồn vì sao, lại ồn ào nói dối
Hục hặc các con hư anh đổ tội cho công việc không thành
Thương em như bầu thương bí xanh
Mới quấn chung giàn đấy thôi mở mắt ra đã thấy già nua sụp đổ
Nhìn lại tháng năm qua em chẳng được gì ngoài danh xưng làm vợ
Gia tài là anh và con với trăm cay đắng giấu trong lòng
... Đừng vặn hỏi anh thương em không?
Anh sợ phút yếu lòng đàn ông cũng khó kiềm nước mắt
Anh không thể khóc
Sợ em tan vỡ tủi phận mất...thì!
Em yêu
Chinh phạt đủ rồi xin về dựa lên tóc em nhu mì
Cười với em nụ cười hằn thời gian bạc ác
Hôn lên ngực bằng đôi môi vài ba lần lầm lạc
Anh mới thấy anh sai quá nhiều
Về nắm lấy bàn tay chai chậm trễ nói lời yêu
Xin lỗi đã vô tâm không biết vợ mình cũng cần nâng niu chiều chuộng
Dang tay cho em gối đầu ngủ một đêm tròn giấc sung sướng
Bao năm làm vợ làm mẹ ...em thức trắng thế đủ rồi
Từ nay anh xin từ bỏ hư danh về thương em thôi
Chúng mình cùng xanh ngắt thêm một lần rồi gục xuống như bầu như bí
Ôm em nằm nghỉ
Đời từ bi tha thứ cho anh hay không em quyết định cả mà
Những lỗi lầm độc ác đã qua
Giờ về hiền lành yêu em như hồi trẻ
Nếp chân chim làm em đẹp lên đấy nhé
Nên em cứ cười nhiều khi ở bên anh!
P/s: Vợ là người ta thương nhưng không mấy khi dám nhận ta yêu nàng rất nhiều trước những cô gái khác!
THÁNG 3 này xin bế nàng lên như thế mà hát ca...
Ai thương vợ, ai muốn dằn mặt chồng thì like và share thiệt gấp gáp mạh mẽ đi nạ

Thứ Hai, 20 tháng 3, 2017

CHỈ LÀ...

Ta chỉ là một giọt sương rơi
Chẳng đủ để làm ướt áo ai
Nhưng cũng đủ để làm cho ban mai
dịu ngọt
Ta ước làm tia nắng chiều thánh thót
Dẫu không đủ nhạt nhòa
Để chờ đợi hoàng hôn...
HBT

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

SẮC ĐỎ-LÁ BÀNG

(Tản văn)
          Một sáng đầu xuân cô học trò đến lớp sớm, lần đầu nhìn thấy lá bàng rơi đỏ một góc sân trường. Chợt lá bàng trong kí ức quay về...Lá bàng chọi trâu ngày xưa ấy, ngày theo mẹ đi bán bánh gói một sớm ở chợ quê. 
Lá bàng khí khái lạ thường, mùa thu khi rừng cây đều ngả màu  vàng thay lá thì lá bàng lại vươn mãi thẫm xanh, một màu xanh như khiêu khích như thách thức qui luật của đất trời, kiêu sa vẩy chào đến khó hiểu, mà đến đầu xuân cây cối xanh um nảy lộc thì lá bàng lại rực đỏ, như truyền đam mê và năng lượng cho cả một góc trời.
Cô học trò nhặt một chiếc lá bàng vừa rơi chưa chạm hạt cát nào trên nền đất, điệu đà tìm những đốm vàng còn sót lại, bâng quơ viết lên mặt lá "Lá ơi sao không vàng úa như người" Phải chăng đó là điều khác biệt giữa các loài cây khi xuân vừa đến? "Cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ" (Trịnh Công Sơn) Màu đỏ như chuyển mình đánh thức một mùa đẹp nhất trong năm. Con người có khi vội vả có lúc thảnh thơi còn bàng thì vô tư, hừng đỏ theo cách của riêng mình.
Có lẽ, lá bàng muốn làm một đốm lửa đầu xuân. Lặng lẽ thắp lên một thông điệp gửi đến các bạn học trò "Cảm xúc, nhiệt huyết và tình yêu mùa xuân." Khắc ghi những kỉ niệm dấu yêu nhắc nhớ các học trò, luôn giữ mãi trái tim rực đỏ...Lá bàng rụng rơi vào lòng đất trong tư thế kiêu hãnh đến lạ lùng...Từ đó nó ấp ủ những mầm xanh.
 "Núp sau lá bàng đỏ
Những nụ mầm ươm chờ ngày xanh"
Cô học trò yêu lắm cánh phượng hồng, yêu lắm chùm bằng lăng tím biếc nhưng sắc đỏ lá bàng không hiểu sao cứ quyền quyện mơn man trong nỗi nhớ. Màu đỏ kiêu sa giữa khoảnh khắc giao mùa đến đầu xuân như một vỡ lẽ hiếm hoi về thiên nhiên, một sắc màu sẽ khó phai trong ký ức. Như một niềm tin mơ hồ, xa xăm...Và màu đỏ lá bàng tự khi nào đã gieo vào lòng cô học trò những ước mơ, hy vọng, niềm tin và yêu thương. Hy vọng vào tương lai rực lửa và yêu thương những gì bình dị mà đôi khi ta vô tình quên lãng như sắc đỏ-lá bàng. 
Đoàn Nhung
Trường THCS Nguyễn Viết Xuân
Kết quả hình ảnh cho hinh anh lá bang













Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2017

Hướng dẫn soạn câu hỏi, bài tập kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực của các chủ đề trong chương trình THCS hiện hành.


A. Đặt vấn đề
         Đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh môn Ngữ văn từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của dạy văn, học văn. Đây chính là một trong những khâu then chốt, công cụ quan trọng, chủ yếu để xác định năng lực nhận thức người học, điều chỉnh quá trình dạy và học; là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng. Thực tế cho thấy, những năm lại gần đây, các đề kiểm tra, đề thi tốt nghiệp THPT, thi đại học, thi tuyển sinh... theo hướng đổi mới, có tính ứng dụng cao vào thực tiễn cuộc sống, tôn trọng chính kiến của học sinh, tạo đất cho các em bộc lộ năng khiếu, quan điểm, cách nhìn nhận của mình về thế giới xung quanh, tránh việc sao chép tài liệu, đọc vẹt một cách máy móc đã từng bước tạo sự chuyển biến trong dạy văn, học văn... Cách đổi mới kiểm tra đánh giá như vậy đã được dư luận đồng tình cao, đón nhận nồng nhiệt.
        Mặc dầu đã có những đổi mới như vậy, nhưng nhìn chung đối với nhiều giáo viên, đề kiểm tra, đánh giá môn ngữ văn vẫn chưa thoát khỏi lối mòn, áp đặt, cứng nhắc máy móc, đóng kín, tạo cơ hội cho kiểu học thụ động "đọc chép"; nặng tính hàn lâm. Hoặc có đề “mở” nhưng gây ra sự phản cảm, đi ngược lại các chuẩn mực giá trị đạo đức truyền thống. Bởi vậy cần phải tiếp tục đổi mới. Chúng ta đã tiếp cận đổi mới kiểm tra đánh giá theo kiến thức kỹ năng. Chuyên đề lần này sẽ đi sâu đổi mới kiểm tra đánh gía theo hướng tiếp cận năng lực nhưng không phải từng bài riêng lẻ mà của các chủ đề. Như vậy, chuyên đề tuy không có gì mới nhưng được xem là bước phát triển cao hơn.
B. Hướng dẫn soạn câu hỏi, bài tập kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực của các chủ đề 
I. Một số lưu ý về đặc điểm của đánh giá theo định hướng năng lực:
Năng lực Ngữ văn được xác định là khả năng của mỗi học sinh thể hiện trong việc thực hiện những mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ mà các em đã có sẵn hoặc tiếp thu được và vận dụng trong quá trình học tập để từ đó hình thành và phát triển các năng lực Ngữ văn bao gồm: năng lực sử dụng Tiếng Việt thể hiện ở 4 kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết); năng lực tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mỹ; năng lực tự học và năng lực thực hành, ứng dụng (trong đó chú trọng tới việc giải quyết tình huống thực tiễn)
1. Không có mâu thuẫn giữa đánh giá theo định hướng năng lực và đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng mà đánh giá theo định hướng năng lực được coi là bước phát triển cao hơn của đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng. Đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng chủ yếu thiên về đánh giá mức độ ghi nhớ, tiếp nhận, tái hiện, phát hiện kiến thức và rèn kỹ năng của người học. Còn đánh giá theo định hướng năng lực quan tâm nhiều đến sự tiến bộ và khả năng của học sinh được bộc lộ trong quá trình học tập; kích thích được sự tự kiểm tra đánh giá của các em và kiểm định được chính xác, khách quan thành quả học tập và mức độ đạt được mục tiêu dạy học từ đó. Chú trọng việc chấm chữa bài kiểm tra.
2. Không lấy việc kiểm tra đánh giá theo kiến thức kỹ năng đã học làm trung tâm mà chú trọng khả năng vận dụng kiến thức kỹ năng trong những tình huống khác nhau. Tức là chuyển trọng tâm đánh giá từ ghi nhớ, tái hiện... sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn. Đánh giá theo định hướng năng lực chú ý đến các nội dung đánh giá mang tính tổng hợp, tích hợp hướng tới những câu hỏi gắn với việc giải quyết các tình huống thực tiễn trong cuộc sống phù hợp với học sinh; giúp các em biết ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống; kết nối những vấn đề được học với thực tiễn cuộc sống (ngoài trường học). Việc kiểm tra đánh giá này hướng tới khả năng làm phong phú và mở rộng cuộc sống cá nhân của học sinh, kiểm soát những nội dung học tập để tham gia vào xã hội trên các mặt văn hóa, khoa học…
3. Giúp học sinh có cơ hội bộ lộ quan điểm, chính kiến cá nhân, suy nghĩ khác nhau (vẫn nằm trong kiểm soát của giáo viên, không đi ngược giá trị chuẩn mực đạo đức và pháp luật) và cách cảm nhận cá nhân phát triển tư duy sáng tạo, từ đó biết cách tự học; giúp các em yêu thích, say mê học văn.
So sánh 2 kiểu câu hỏi:
 VD1: khi kiểm tra về chủ đề các biện pháp tu từ (lớp 6), có thể đưa ra câu hỏi về phép nhân hóa:
 a. Câu hỏi theo đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng: Em hãy chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong đoạn văn sau:
         "Mưa mùa xuân xôn xao, phơi phới. Những hạt mưa bé nhỏ, mềm mại, rơi mà như nhảy nhót. Hạt nọ tiếp hạt kia đan xuống mặt đất (...). Mặt đất đã kiệt sức bỗng thức dậy, âu yếm đón lấy những hạt mưa ấm áp, trong lành. Đất trời lại dịu mềm, lại cần mẫn tiếp nhựa cho cây cỏ. Mưa mùa xuân đã mang lại cho chúng cái sức sống ứ đầy, tràn lên các nhánh lá mầm non. Và cây trả nghĩa cho mưa bằng cả mùa hoa thơm trái ngọt." (Tiếng mưa - Nguyễn Thị Thu Trang)
- Câu hỏi đánh giá theo định hướng năng lực: Nhận xét của em về cách miêu tả cơn mưa mùa xuân độc đáo của tác giả. Từ đó, hãy viết một đoạn văn tả cảnh khu vườn nhà em sau cơ mưa rào trong đó có sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa.
VD2: Khi kiểm tra chủ đề truyện trung đại Việt Nam có thể đưa ra câu hỏi về tác phẩm: "Chuyện người con gái Nam Xương":
- Câu hỏi theo chuẩn kiến thức kỹ năng: Trương Sinh là người ra sao? Còn câu hỏi theo định hướng năng lực: Theo em, Trương Sinh đáng thương hay đáng trách? Vì sao?
- Câu hỏi theo chuẩn kiến thức kỹ năng: Kết thúc tác phẩm có gì đặc biệt? Câu hỏi theo định hướng năng lực: Nếu nhà văn Nguyễn Dữ để cho Vũ Nương trở về sum họp cùng chồng con thì theo em cách kết nào có ý nghĩa hơn? Thú vị hơn? Tại sao?
VD3: Khi kiểm tra chủ đề truyện dân gian Việt Nam (lớp 6) có thể đưa ra câu hỏi về truyện cổ tích: "Thạch Sanh":
- Câu hỏi theo chuẩn kiến thức kỹ năng: Chỉ ra những đức tính đáng quý của nhân vật Thạch Sanh?
- Câu hỏi theo định hướng năng lực: Nếu là Thạch Sanh, em có tha chết cho mẹ con Lí Thông không? Vì sao?
VD4: Khi kiểm tra chủ đề truyện và ký  Việt Nam  1930- 1945 (lớp 8) có thể đưa ra câu hỏi sau:
- Câu hỏi theo chuẩn kiến thức kỹ năng: Phân tích ý nghĩa của chi tiết: "Nếu người trên xe không phải là mẹ thì cái lầm đó không những làm tôi thẹn mà tủi cực nữa. Khác gì cái ảo ảnh của dòng nước trong suốt chảy dưới dưới bóng râm hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc." (Trích: "trong lòng mẹ). Còn câu hỏi theo định hướng năng lực: Nếu ta mạn phép nhà văn Nguyên Hồng bỏ đoạn văn này, thì theo em có được không? Vì sao? Từ đó, hãy viết đoạn văn bàn về ý nghĩa thiêng liêng của người mẹ đối với tuổi thơ, với cuộc đời mỗi con người.

I. Hướng dẫn cách, quy trình biên soạn bộ câu hỏi, bài tập kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực của một chủ đề:
Việc xây dựng đề kiểm tra gồm các bước thông thường: kế hoạch ra đề, xây dựng ma trận đề, biên soạn câu hỏi và hướng dẫn chấm, thẩm định đề kiểm tra, hoàn thiện đề. Trong đó chú trọng các bước:
     Bước 1: Chọn chủ đề
       Lựa chọn các chủ đề dạy học môn Ngữ văn có thể căn cứ vào chương trình GDPT môn Ngữ văn. Theo đó, Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn là 3 mạch nội dung lớn và cũng là 3 phân môn hợp thành của môn Ngữ văn. Trong mỗi mạch nội dung này lại có các chủ đề nhỏ. Ví dụ, mạch Tiếng Việt có thể tách ra các chủ đề nhỏ hơn như: từ vựng, ngữ pháp, phong cách ngôn ngữ, biện pháp tu từ, hoạt động giao tiếp. Mạch Tập làm văn bao gồm:
những vấn đề chung về văn bản, các kiểu văn bản... Mạch Văn học bao gồm các tác phẩm sắp xếp theo thể loại: truyện, thơ, nghị luận, kịch hoặc chủ đề Văn bản nhật dụng… GV lựa chọn chủ đề để xây dựng câu hỏi, đề kiểm tra đánh giá theo định hướng năng lực.
Bước 2: Xác định yêu cầu về chuẩn kiến thức kỹ năng cần đạt:
     Bám vào chuẩn kiến thức kỹ năng để kiểm tra phù hợp. Theo định hướng hình thành và phát triển năng lực nên khi xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng cần hướng đến những năng lực có thể hình thành sau khi học chủ đề.
Bước 3: Lập bảng mô tả phát triển năng lực học sinh
     Bảng mô tả các mức độ đánh giá theo năng lực nhằm cụ thể hoá chuẩn kiến thức kỹ năng theo các mức độ khác nhau, nhằm đánh giá được khả năng đạt được của học sinh. Các mức độ này được sắp xếp theo 4 mức: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao (nên từ một chuẩn xây dựng các câu hỏi ở những mức khác nhau)
* Mức nhận biết: Học sinh nhớ được các khái niệm cơ bản, có thể nêu lên hoặc nhận ra chúng khi được yêu cầu. Các động từ thường sử dụng: Nêu, tóm tắt, nhớ, nhận diện, trình bày…
* Mức thông hiểu: Học sinh lí giải, suy diễn, kết nối các thông tin, biết vận dụng các kiến thức, khái niệm theo cách tương tự. Các động từ thường sử dụng: giải thích, lí giải, xác định, nhận xét…
* Mức vận dụng thấp: Học sinh tạo ra sự liên kết, kết nối, so sánh giữa kiến thức đã học và vận dụng chúng để thực hành các yêu cầu tương tự như giáo viên đã dạy hoặc SGK  đã hướng dẫn. Các động từ thường sử dụng: tạo lập (câu, đoạn); so sánh, nhận xét, đánh giá, phân tích…
* Mức vận dụng cao: Học sinh sử dụng các khái niệm, kiến thức về môn học để giải quyết các vấn đề mới hoặc những tình huống tương tự như trong thực tiễn cuộc sống. Các động từ thường sử dụng:  tạo lập (bài viết, đoạn); so sánh, nhận xét, đánh giá, phân tích, trình bày (quan điểm cá nhân); …
Bước 4: Lập ma trận đề
        Lập ma trận đề kiểm tra: (đã triển khai ở chuyên đề năm học 2009-2010). Việc biên soạn câu hỏi bám vào ma trận đề kiểm tra đã thiết lập để thực hiện định hướng phát triển năng lực của học sinh.
Bước 5: Biên soạn câu hỏi, hướng dẫn chấm:
Biên soạn câu hỏi, bài tập kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học ứng với mỗi chủ đề đã xác định.
Lựa chọn hình thức phù hợp: các loại câu hỏi, bài tập:
-  Trắc nghiệm khách quan (về tác giả, tác phẩm, đặc điểm thể loại, chi tiết nghệ thuật, nhận biết các khái niệm, hiện tượng ngôn ngữ, đặc điểm của văn bản...
 - Câu hỏi tự luận (lý giải, phát hiện, nhận xét, đánh giá về văn bản, ngôn ngữ, phong cách nghệ thuật...)
* Nếu đề ra kết hợp cả hai hình thức thì tỷ lệ điểm có thể theo mức độ: 50%-50%; 40%-60%; 30%-70%...
* Một số lưu ý :
(*) Câu hỏi dạng Trắc nghiệm khách quan:
     - Từ ngữ và cấu trúc của câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu đối với mọi học sinh
- Phương án nhiễu cần xây dựng dựa trên các lỗi thông thường hay nhận thức sai lệch của HS, không được quá khác biệt; các phương án sai phải có vẻ hợp lý.
- Hạn chế không được lạm dụng đưa ra phương án trả lời “Tất cả các đáp án trên đều đúng” hoặc “Không có phương án nào đúng”
- Tránh dùng câu phủ định, đặc biệt phủ định 2 lần.
- Câu hỏi điền khuyết chỉ để 1 chỗ trống và điền 1 từ thật ngắn gọn.
- Điểm mỗi câu từ 0.25 đến 0.5
(*) Câu hỏi tự luận và bài viết: Lưu ý: trên cơ sở kiến thức kỹ năng cần đảm bảo các yêu cầu sau:
1. Tính tích hợp: 
     - Vì các mạch chụ thể (Đọc hiểu, Tiếng Việt, Làm văn) trong môn Ngữ văn không học một cách riêng lẻ mà thường được khai thác dựa trên các đoạn trích hoặc văn bản. Điều này không chỉ giúp học sinh có kỹ năng đọc và tiếp nhận văn bản dưới góc độ ngôn ngữ mà còn trang bị cho các em những hiểu biết về các kiến thức làm văn hoặc ngược lại. Do đó câu hỏi kiểm tra ngoài việc ghi nhớ, tái hiện còn yêu cầu học sinh nhận diện chúng trong các tình huống cụ thể, hiểu ý nghĩa sử dụng của chúng trong đoạn trích hoặc văn bản. (Ví dụ: khi kiểm tra chủ đề Tiếng Việt lớp 8 có thể ra câu hỏi về dấu câu: Phân tích sắc thái biểu cảm của các loại dấu câu trong đoạn trích sau:
"Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão nghẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc...
     - Khốn nạn... Ông Giáo ơi!... Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi thì chạy ngay về, vẫy đuôi mừng. Tôi cho nó ăn cơm. Nó đang ăn thì thằng Mục nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy hai cẳng sau nó dốc ngược nó lên. Cứ thế là thằng Mục với thằng Xiên, hai thằng chúng nó chỉ loay hoay một lúc đã trói chặt cả bốn chân nó lại. Bấy giờ cu cậu mới biết là cu cậu chết!... Này! Ông Giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi, như muốn bảo tôi rằng: "A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?" Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó!"
                                   (Trích tác phẩm "Lão Hạc")
2. Tính ứng dụng thực tiễn: 
- Năng lực Ngữ văn của học sinh thể hiện ở kết quả thực hành các kỹ năng mà học sinh có được từ các bài học. Những kỹ năng này còn được thể hiện trong việc ứng dụng vào các tình huống đa dạng trong cuộc sống. Do đó việc kiểm tra, đánh giá năng lực học tập của học sinh lý tưởng nhất là thiết kế được một bài tập thực hành tổng hợp, trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa việc tiếp nhận và tạo lập văn bản. Chú trọng tính chất gần gũi, thiết thực, hữu ích, gắn với những tình huống có thực hoặc giả định nhưng gần với thực tiễn cuộc sống.
 (Ví dụ 1: khi kiểm tra chủ đề: Tập làm văn các kiểu văn bản (lớp 8) có thể đưa ra câu hỏi: Nếu là một hướng dẫn viên dụ lịch, em sẽ giới thiệu như thế nào với du khách về khu du lịch Thiên Cầm của quê hương em?
Ví dụ 2: với chủ đề truyện dân gian lớp 6 có thể đưa ra câu hỏi:
C1. Từ việc được chứng kiến những trận lũ lụt hiện nay, em hãy giải thích tại sao trong các cuộc giao tranh quyết liệt giữa thần nước và thần núi trong truyền thuyết "Sơn Tinh, Thủy Tinh" tác giả dân gian để thần nước phải ngậm ngùi rút quân?
C2. Trong giấc mơ em gặp Thủy Tinh, em hãy kể lại cuộc gặp gỡ tình cờ đó?
3. Tính giáo dục, mang ý nghĩa xã hội: 
- Các câu hỏi kiểm tra cần chú trọng phát huy tối đa tính tự giác, tích cực, chủ động của học sinh khi làm bài (hạn chế sử dụng những văn bản, tình huống quá quen thuộc với học sinh, nếu sử dụng những văn bản này, cần tìm tòi đổi mới câu hỏi). Giáo viên cần tìm hiểu nghiên cứu để xây dựng những tình huống giả định sát thực tiễn, lựa chọn những tình huống tạo được tính hấp dẫn, lôi cuốn với học sinh dựa trên những vấn đề có ý nghĩa xã hội, giáo dục sâu sắc, có tính thời sự... tạo hứng thú và cung cấp thêm những thông tin bổ ích cho học sinh.
     (Ví dụ 1: Với chủ đề truyện dân gian lớp 6 có thể đưa ra câu hỏi: Câu 1: Soi vào truyền thuyết "Con rồng cháu tiên", em hãy giải thích ý nghĩa của từ "đồng bào" mà chúng ta thường dùng. Câu 2: Sau khi đọc bản tuyên ngôn độc lập, Bác Hồ ân cần hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe có rõ không?”, tại sao từ "đồng bào" (Bác không dùng từ nhân dân) đã làm xúc động hàng triệu trái tim người Việt?
Ví dụ 2: Chủ đề văn bản nhật dụng lớp 7 có thể đưa ra câu hỏi:  Được chứng kiến tâm trạng đau đớn của anh em Thành và Thủy trong truyện ngắn: "Cuộc chia tay của những con búp bê" (Khánh Hoài), em có lời nhắn gửi gì qua bức thư em viết gửi cho những ông bố, bà mẹ đang đứng bên bờ vực của sự chia ly?
- Bước đầu hướng tới những VB ngoài SGK để đánh giá chính xác NL đọc hiểu hoặc tạo lập VB của HS (tiêu chí lựa chọn VB bên ngoài) (lấy VD)
     VD: khi dạy chủ đề Tập làm văn lớp 9 Nghị luận về đời sống xã hội có thể ra đề như sau: Đại văn hào Mác xim goorki đã từng thốt lên tâm đắc: "Nơi lạnh nhất của thế giới không phải là bắc cực mà là nơi thiếu tình thương."  Viết bài văn ngắn từ trình bày suy nghĩ của em về câu danh ngôn trên.
4. Thể hiện được chính kiến cá nhân:
-Thiết kế những câu hỏi, bài tập chú trọng phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS; giúp HS bộc lộ được những quan điểm cá nhân nhằm phát triển tư duy độc lập, tư duy phản biện.
VD1: chủ đề: Thơ Đường ( lớp 7), có thể có câu hỏi: Với câu thơ: "Hương âm vô cải mấn mao tồi" trong "Hồi hương ngẫu thư", có ý kiến cho rằng giọng quê chính là giọng của những người ở quê không thay đổi. Thế nhưng có ý kiến phản bác lại đây là giọng của người con xa quê. Theo em, ý kiến nào có sức thuyết phục? Tại sao?
VD2  chủ đề: Thơ Việt Nam 1900 - 1945 ( Lớp 8), có thể có câu: Tại sao trong bài thơ "Quê hương", tác giả lại viết: "Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe" đặt trong dấu ngoặc kép? Có ý kiến cho rằng câu thơ này thể hiện sự mê tín của người dân làng chài em có đồng ý không?
Xây dựng đáp án:
 * Dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
- Mức tối đa
- Không đạt
* Dạng câu hỏi tự luận
- Mức tối đa
- Mức chưa tối đa
- Không đạt
Dạng bài viết/bài luận
- Tiêu chí về nội dung bài viết (Mở bài, Thân bài, Kết bài)
- Các tiêu chí khác (Hình thức trình bày; Lập luận, Sáng tạo)
Ví dụ minh họa:
Lớp 7. Chủ đề: Các biện pháp tu từ
I. Xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ của chủ đề.
a. Kiến thức:
     - Học sinh hiểu được khái niệm, tác dụng của các biện pháp tu từ điệp ngữ, liệt kê, chơi chữ.
     - Có thể mở rộng, liên hệ với các biện pháp tu từ đã học ở lớp 6 như: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ...
b. Kỹ năng:
- Biết cách sử dụng các biện pháp tu từ trên trong khi nói và viết phù hợp với các tình huống giao tiếp.
- Nhận diện được giá trị của các biện pháp tu từ điệp ngữ, liệt kê, chơi chữ biết vận dụng những biện pháp tu từ đó trong những tình huống giao tiếp, trong thực tiễn đời sống cụ thể để nâng cao hiệu quả giao tiếp, giáo dục học sinh.
c. Thái độ:
- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, có ý thức trau dồi sử dụng các biện pháp tu từ điệp ngữ, liệt kê trong giao tiếp.
II. Xác định và mô tả các yêu cầu cần đạt của các loại câu hỏi bài tập đánh giá năng lực
 
Chủ đề
Nhận Biết
Thông hiểu
Vận dụng thấp
Vận dụng cao
Các biện pháp tu từ: điệp ngữ, liệt kê, chơi chữ
Nhớ khái niệm về các biện pháp tu từ điệp ngữ, liệt kê, chơi chữ
Nêu, chỉ ra được tác dụng, mục đích của các biện pháp tu từ điệp ngữ, liệt kê, chơi chữ; lý giải được về đặc điểm nhận biết các biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản.
Phân tích lý giải tác dụng của các biện pháp tu từ điệp ngữ, liệt kê, chơi chữ được sử dụng trong văn bản
Đưa ra được những bình luận, nhận xét, thể hiện quan điểm riêng về tác dụng của các biện pháp tu từ điệp ngữ, liệt kê, chơi chữ được sử dụng trong những văn bản mới.

Thông hiểu
Vận dụng thấp
Vận dụng cao
Vận dụng cao
Vận dụng cao
biện pháp tu từ: điệp ngữ, liệt kê, chơi chữ
Nhận diện đúng các biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản
Đặt câu theo chủ đề cho sẵn có sử dụng các biện pháp tu từ điệp ngữ, liệt kê, chơi chữ
Tạo lập được một số câu, đoạn văn theo yêu cầu có sử dụng các biện pháp tư từ điệp ngữ, liệt kê, chơi chữ. (Lưu ý HS phân biệt và lý giải được biện pháp tu từ với cách sử dụng không mang tính nghệ thuật)
Tạo lập được một số câu, đoạn văn theo yêu cầu có sử dụng các biện pháp tu từ điệp ngữ, liệt kê, chơi chữ. Lựa chọn sử dụng các biện pháp tu từ trên để nâng cao hiệu quả diễn đạt trong những tình huống thực tiễn hoặc giả thực tiễn.

Ma trận đề kiểm tra.
 
Chủ đề
Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng thấp
Vận dụng cao
Tổng số
biện pháp tu từ: điệp ngữ, liệt kê, chơi chữ.
Nhận diện đúng các biện pháp tu từ điệp ngữ, liệt kê, chơi chữ trong bài ca dao.
Chỉ ra được tác dụng của phép tu từ chơi chữ; ý nghĩa của bài ca dao
Phân biệt, lý giải  lỗi lặp từ trong một đoạn văn HS trình bày cảm nhận về bài ca dao với biện pháp tu từ điệp ngữ
Phân biệt, lý giải  lỗi lặp từ trong một đoạn văn HS trình bày cảm nhận về bài ca dao với biện pháp tu từ điệp ngữ
Tích hợp với rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn phát biểu cảm nghĩ trong tập làm văn, ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống
câu
6
2
1
1
10
điểm
3,0
1,0
2,5
3,5
10
Đề kiểm tra
Thời gian làm bài: 45 phút.
Đọc kỹ bài ca dao sau và trả lời các câu hỏi:

  Một trăm thứ dầu, dầu chi là dầu không thắp?
  Một trăm thứ bắp, bắp chi là bắp không rang?
  Một trăm thứ than, than chi là than không quạt?
  Một trăm thứ bạc, bạc chi là chẳng ai mua?
  Trai nam nhi anh đối đặng thì gái bốn mùa em theo!

  Một trăm thứ dầu, dầu xoa dầu không ai thắp
  Một trăm thứ bắp, bắp chuối bắp chẳng ai rang
  Một trăm thứ than, than thân than không ai quạt
  Một trăm thứ bạc, bạc tình bạc chẳng ai mua
  Trai nam nhi đà đối đặng, gái bốn mùa tính răng?
I. Trắc nghiệm (4 điểm)
Câu 1. Bài ca dao là lời đối đáp giữa ai với ai?
A.Giữa cô gái và chàng trai
B.Giữa anh với em
C.Giữa mẹ với con
D.Giữa chị với em
Câu 2. Những biện pháp tu từ nào sau đây được sử dụng trong bài ca dao trên?
A. So sánh, nhân hóa, ẩn dụ
B. Nhân hóa, điệp ngữ, hoán dụ
C. Điệp ngữ, chơi chữ, liệt kê
D. Hoán dụ, chơi chữ, so sánh
Câu 3. Dòng nào sau đây đúng với việc gọi tên phép liệt kê?
A. Liệt kê là đối chiếu các sự vật, sự việc có nét tương đồng nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt.
B.Liệt kê là sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ hay cụm từ cùng loại để diễn tả được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau của thực tế hay của tư tưởng, tình cảm.
 C. Liệt kê là khi nói hoặc viết người ta có thể dùng biện pháp lặp lại từ ngữ hoặc cả một câu để làm nổi bật ý, gây cảm xúc mạnh.
D. Liệt kê là lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái hài hước, dí dỏm… để làm câu văn hấp dẫn và thú vị.
Câu 4. Phép chơi chữ trong bài ca dao dựa vào hiện tượng gì?
   A.Hiện tượng từ đồng âm
   B.Hiện tượng từ đồng nghĩa
   C.Hiện tượng từ gần nghĩa
   D.Hiện tượng từ trái nghĩa
Câu 5. Biện pháp tu từ điệp ngữ được sử dụng trong bài ca dao trên thuộc những dạng nào?
A. Điệp ngữ cách quãng và nối tiếp
B. Điệp ngữ cách quãng và chuyển tiếp
C.Điệp ngữ nối tiếp và chuyển tiếp
D. Cả A, B, C đều sai
Câu 6. Điền từ thích hợp vào chỗ trống (...):
            (...) là lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái hài hước, dí dỏm để làm câu văn hấp dẫn và thú vị.
A.Điệp ngữ
B.Chơi chữ
C.Liệt kê
D.Nhân hóa
Câu 7. Biện pháp chơi chữ trong bài ca dao tạo sắc thái biểu cảm nào?
A. Tạo sắc thái đả kích
B. Tạo sắc thái châm biếm
C.Tạo sắc thái dí dỏm
D. Tạo sắc thái giễu cợt
Câu 8. Ngoài tác dụng giải đố, giao duyên, bài ca dao còn ngầm khuyên chúng ta điều gì?
A. Sống phải lạc quan, trung thực
B. Sống phải lạc quan, khảng khái
C. Sống phải lạc quan, bao dung
D. Sống phải lạc quan, có tình nghĩa
Hướng dẫn chấm
I. Phần trắc nghiệm. (8 câu, mỗi câu đúng cho 0.5 điểm)
Câu 1.
Mức tối đa: Phương án A
Mức chưa đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc chưa trả lời.
Câu 2.
Mức tối đa: Phương án C
Mức chưa đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc chưa trả lời.
Câu 3.
Mức tối đa: Phương án B
Mức chưa đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc chưa trả lời.
Câu 4.
Mức tối đa: Phương án A
Mức chưa đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc chưa trả lời.
Câu 5.
Mức tối đa: Phương án C
Mức chưa đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc chưa trả lời.
Câu 6.
Mức tối đa: Phương án B
Mức chưa đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc chưa trả lời.
Câu 7.
Mức tối đa: Phương án C
Mức chưa đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc chưa trả lời.
Câu 8.
Mức tối đa: Phương án D
Mức chưa đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc chưa trả lời.
II. Phần tự luận (6 điểm)
Câu 9 (2.5 điểm)
Yêu cầu:
     1. Việc lặp đi lặp lại từ ngữ "bài ca dao" trong đoạn văn không phải là phép điệp ngữ  (1.0 điểm)
     2. Giải thích ngắn gọn: đây không phải là biện pháp tu từ điệp ngữ vì không có tác dụng nhấn mạnh, gây ấn tượng để tạo sắc thái biểu cảm, nâng cao hiệu quả diễn đạt. Mà đây là lỗi lặp từ bạn học sinh đã mắc phải làm cho đoạn văn lủng củng, nhàm chán, hiệu quả diễn đạt hạn chế (1.5 điểm)
Câu 10 (3.5 điểm)
     - Yêu cầu:
     + Học sinh viết được đoạn văn với lối diễn đạt mạch lạc, trong sáng đúng kiểu bài phát biểu cảm nghĩ về tình yêu quê hương, đất nước. (2.0 điểm)
     
+ HS biết sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ để tô đạm, nhấn mạnh, gạch chân chỉ rõ(1.5 điểm)

- Mức tối đa ( 3.5 điểm): Thực hiện đầy đủ các yêu cầu trên.
- Mức chưa tối đa: Thực hiện được 2/3 yêu cầu.
-Mức không đạt:  thực hiện được 1/3 yêu cầu hoặc HS không viết được đoạn văn.