Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2013

TAI LIỆU DẠY HỌC TỰ CHỌN


NGHỊ LUẬN VĂN HỌC VÀ MỘT SỐ CÁCH ĐƯA DẪN CHỨNG
TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
                                                                 (Đoàn Thị Nhung – PGD&ĐT Tiên Phước)
      (Trích Tài liệu Dạy học tự chọn của  Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Nam – Năm học 2009 – 2010)
                     
  
Văn bản nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng trong đời sống xã hội của con người, có vai trò rèn luyện tư duy, năng lực biểu đạt những quan niệm,tư tưởng sâu sắc trước đời sống.Trước tác phẩm của các nhà tư tưởng, nhà lí luận, nhà triết học,nhà chính trị đều viết dưới hình thức nghị luận.Có thể nói không có văn nghị luận thì khó mà hình thành các tư tưởng mạch lạc và sâu sắc trong đời sống. Có năng lực nghị luận là một điều kiện cơ bản để con người thành đạt trong cuộc sống xã hội.
                Văn nghị luận thực chất là văn bản lí thuyết, văn bản nói lí lẽ nhằm phát biểu các nhận định, tư tưởng, suy lí, quan điểm, thái độ trước một vấn đề đặt ra.Do đó muốn làm văn nghị luận tốt, người ta phải có khái niệm, có quan điểm chủ kiến rõ ràng, biết sử dụng khái niệm, biết tư duy lôgíc, đồng thời biết vận dụng các thao tác, phân tích, tổng hợp, qui nạp,diễn dịch, so sánh, suy lí,...Nói chung là biết tư duy trừu tượng.Đây là loại hình văn bản tương đối khó, nhất là đối với những người quen tư duy cụ thể, cảm tính, ít năng lực suy luận.Chính vì vậy mà văn nghị luận sẽ rèn luyện năng lực tư duy, kĩ năng nghị luận và tinh thần tự chủ trước cuộc sống. Để rèn luyện được năng lực đó ta cần nắm vững đặc điểm của văn bản nghị luận đó là luận điểm, luận cứ và lập luận.
                Dạng bài nghị luận có hai nội dung cơ bản: nghị luận xã hội và nghị luận văn học. Sau đây là một số vấn đề về  nghị luận văn học.
     I.Một số vấn đề về nghị luận văn học
Nghị luận văn học là trình bày, nhận xét, đánh giá của người viết về tác phẩm văn học cụ thể. Mỗi loại văn nghị luận có một yêu cầu về nội dung và phương pháp khác nhau.Trong bài nghị luận văn học người viết thường vận dụng nhiều thao tác, kĩ năng (giải thích, chứng minh, phân tích, bình giảng,...) và nhiều khi khó có thể tách bạch một cách rạch ròi các thao tác, kĩ năng.Trong thao tác nghị luận này đã có hoặc đang sử dụng thao tác nghị luận kia.Các em cần biết trình bày một cách có lí lẽ, hấp dẫn những cảm nhận, suy nghĩ, đánh giá của mình về một vấn đề văn học. Bởi một bài nghị luận hay không chỉ  chinh phục khối óc mà còn rung động  trái tim người đọc. Muốn vậy bài văn nghị luận ấy phải vừa đạt lí lại vừa thấu tình; vừa có nội dung tư tưởng cao đẹp lại vừa có sức truyền cảm mạnh mẽ, thấm thía. Trong một lần nói chuyện với thầy cô giáo dạy văn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ân cần căn dặn: "Mục đích của việc dạy văn là phải rèn luyện cho học sinh có ý thức, từ đó có cố gắng rồi có khả năng tự mình suy nghĩ, suy nghĩ nhiều, suy nghĩ sâu về những điều mình muốn nói, muốn viết và khi nói khi viết phải diễn tả cái gì mình suy nghĩ mình cần bày tỏ một cách trung thành, chính xác, làm nổi bật điều mình muốn nói." Cũng như M.Gooc-Ki:'' Trong văn nghị luận chúng ta phải học cách "Dùng từ với một sự chính xác nghiệt ngã."
Trong chương trình Ngữ văn THCS tập trung vào hai dạng nghị luận văn học tiêu biểu là nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
  1.Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)        
Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện,chủ đề hay nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể.Những nhận xét, đánh giá về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa của cốt truyện, tính cách số phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được người viết phát hiện và khái quát.Các nhận xét đánh giá về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) trong bài nghị luận phải rõ ràng đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phục.Cần có bố cục mạch lạc, có lời văn chuẩn xác, gợi cảm.Trong quá trình triển khai các luận điểm, luận cứ cần thể hiện sự cảm thụ và ý kiến riêng của người viết về tác phẩm.
2. Nghị luận về đoạn thơ,bài thơ       
Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày nhận xét, đánh giá của mình về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ bài thơ ấy.
-Yêu cầu đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ bài thơ: Nói đến tư tưởng tình cảm và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ có nghĩa là cần đề cập tới hai yếu tố: tác phẩm và tác giả. Điều này đòi hỏi người viết phải quan tâm tới việc tìm hiểu cả những yếu tố trong văn bản (ngôn ngữ, hình tượng, nghệ thuật, nội dung, chủ đề...) và những yếu tố nằm ngoài văn bản (hoàn cảnh sáng tác, cuộc đời và phong cách nghệ thuật của tác giả.)
-Thơ là nghệ thuật ngôn từ.Vì vậy quá trình nghị luận để rút ra những nhận xét đánh giá về tư tưởng tình cảm cũng như giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ phải bắt đầu từ những khám phá về vẻ đẹp và ý nghĩa biểu đạt của ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ, giọng điệu thơ; đồng thời phải khai thác giá trị của các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ, đoạn thơ.
-Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần phải hội tụ cả hai yếu tố: năng lực cảm thụ văn chương, khả năng khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn học và phương pháp làm một bài văn nghị luận. Mặt khác lời văn và cách thức diễn đạt trong bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần đảm bảo các tiêu chuẩn:vừa súc tích, chặt chẽ thể hiện chính kiến của người viết, lại vừa gợi cảm, sinh động thể hiện sự rung động chân thành của người viết đối với tác phẩm. Đây là đặc điểm khác biệt giữa nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ với các dạng văn nghị luận khác.
                -Quá trình nghị luận về một đoạn thơ bài thơ phải đảm bảo theo qui trình: Hiểu đúng, hiểu sâu về đối tượng, từ đó mới trình bày lần lượt những cảm nhận, đánh giá của mình về những giá trị đặc sắc, những phương diện nổi bật của tác phẩm. Bài văn nghị luận có nội dung đúng chưa hẳn là bài văn nghị luận hay; nhưng muốn có bài văn nghị luận hay thì trước hết phải đảm bảo được tiêu chuẩn đúng.
 Tóm lại muốn viết được một bài văn nghị luận văn học hay trước hết phải hiểu văn.Vậy cần quan niệm thế nào là hiểu văn.Biêlinxki nói:''Trong lĩnh vực của cái đẹp, mọi phán đoán chỉ có giá trị khi lí trí và tình cảm thống nhất hài hòa với nhau.''
''Nói văn không chỉ nói đúng hay sai mà còn phải nói hay, hay dở.Ở đây hiểu để giải thích, hiểu sâu còn có khoái cảm hơn. Đọc văn hay phải  cảm thấy lạnh xương sống phải có nhu cầu rung đùi, ngâm nga hoặc phải khóc, cười, phải tức tối, thậm chí muốn xông ra hành động.Các cụ ngày xưa gặp câu văn hay thấy kinh sợ, thấy như có quỷ thần trong đó là vậy..''(Nguyễn Đăng Mạnh)
Văn là chuyện tư tưởng tâm hồn của con người trước vẻ đẹp của tình người và tạo vật.Văn chương làm đắm đuối cổ kim, bắt người ta cười và khóc đủ cung bậc. Nên đọc văn cũng phải đọc bằng cả tư tưởng và tâm hồn. Lấy tâm hồn mình mà cảm nhận tâm hồn của nghệ sĩ gởi vào tác phẩm.Đây là một hình thái tư tưởng rất cụ thể và phong phú,hài hòa cả lí trí và tình cảm,nhưng tình cảm là nội dung trực tiếp tạo ra hình dạng, màu sắc cụ thể,cá thể của tư tưởng này. Có thể gọi là tư tưởng, tình cảm thẩm mỹ.Chưa cảm nhận được cái tư tưởng tình cảm này chưa gọi là hiểu văn.
Ngoài ra người xưa còn nói ''Ý tại ngôn ngoại'' có nghĩa là chất thơ nằm ở ngoài lời,ở ngoài nghĩa đen của từ, của câu nó nằm ở giữa các dòng chữ,ở bên trên các dòng chữ, hay nói như Tố Hữu ở cái ''im lặng giữa các từ''. Có thể nói một cách khái quát: Nhà văn nhất là nhà thơ dùng cái nói ra để diễn đạt cái không nói ra và người sành văn thì từ cái nhà thơ nói ra cảm nhận được cái không nói ra của tác giả.Nghệ thuật ngôn từ tinh vi phong phú là ở chỗ ấy. Hiểu văn như thế sẽ thấy nó là một cái gì rất cụ thể, rất cá thể và gắn bó làm một, giữa nội dung và hình thức không thể tách rời được.
Trong một bài thơ người sành sỏi thường phát hiện những câu thần mắt chữ.Trong một thiên truyện cũng vậy, thế nào cũng có những tình tiết, tính cách vang dội nhất.
   -Để lời phân tích, đánh giá nhận xét thêm sâu sắc, người viết có thể viện dẫn ý kiến của người khác (thường là các nhà nghiêng cứu, phê bình văn học).Đồng thời trong khi phân tích, đánh giá đoạn thơ, bài thơ nên sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu với những câu thơ, đoạn thơ, bài thơ khác...về nhiều phương diện. Cốt là để làm nổi bật cái hay, cái đẹp của tác phẩm được phân tích.
          Khi viết bài nghị luận văn học cần chú ý tới những đặc điểm trên để bài viết chỉ ra được cái hay, cái đẹp một cách có cơ sở, có sức thuyết phục.
II.Một số cách đưa dẫn chứng trong bài văn nghị luận.  
Nội dung bài văn nghị luận được tạo nên bởi những lí lẽ và dẫn chứng cả hai cùng có một mục đích là làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận...Tuy vậy nếu như lí lẽ nghiêng về việc làm cho người đọc hiểu thì dẫn chứng thiên về làm cho người ta tin. Một khi đã hiểutin tức là đã bị thuyết phục.
                Dẫn chứng là những câu thơ, câu văn, câu chuyện, những lời nhận xét đánh giá...Trong sử sách hay trong cuộc sống, được vận dụng làm cho điều ta giải thích, phân tích, chứng minh thêm sáng tỏ. Các cụ xưa có câu "Nói có sách, mách có chứng."Gamzatốp thì lại nói: "Kẻ ngu si làm kinh ngạc bằng tiếng gào, người thông minh làm kinh ngạc bằng những câu tục ngữ dẫn ra đúng chỗ" (Đaghextan của tôi). Nên khi làm văn nghị luận, rất cần biết cách chọn, đưa dẫn chứng để bài văn có sức thuyết phục.
                Trước hết cần phân biệt hai loại dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học.Đó là dẫn chứng bắt buộc và dẫn chứng mở rộng (liên hệ, so sánh). Dẫn chứng bắt buộc là dẫn chứng nằm trong phạm vi yêu cầu của đề về tư liệu. Còn dẫn chứng mở rộng là loại dẫn chứng ngoài phạm vi trên do người viết viện dẫn ra để liên hệ, đối chiếu nhằm làm sáng tỏ thêm ý đang được nghị luận. Phải tôn trọng và tập trung vào những dẫn chứng bắt buộc, tránh tình trạng dẫn chứng mở rộng lại nhiều hơn, coi trọng hơn, làm át cả dẫn chứng bắt buộc.
Sau đây là một số cách đưa dẫn chứng thường hay sử dụng trong bài văn nghị luận văn học.
@ Cách thứ nhất:
Nêu vấn đề phân tích trước rồi đưa dẫn chứng minh họa.
Ví dụ:
       Khi nói về nghệ thuật tả cảnh trong Truyện Kiều nhà văn Hoài Thanh đã đưa ra dẫn chứng kiểu này.
"...Cùng một cảnh nơi mộ Đạm Tiên mà trong buổi chơi xuân thì thanh thanh lặng lặng:
                                Nao nao dòng nước uốn quanh,
                    Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Sau khi Kim Kiều gặp nhau,yêu nhau,chưa nói với nhau một lời đã mỗi người một ngả thì phong cảnh như bâng khuâng một mối tình khó tả:
                                Dưới cầu nước chảy trong veo
                      Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.
Đến khi Kim Trọng nhớ người trở lại tìm thì cảnh lại ra chiều dửng dưng tinh nghịch:
                                Một vùng cỏ mọc xanh rì,
                   Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu
@ Cách thứ hai:
Đưa ngay dẫn chứng hoặc giới thiệu dẫn chứng rồi trích ngay sau đó mới bình giá, phân tích.
Ví dụ:
                Nhà văn Nguyễn Đình Thi khi bình một bài ca dao.Ông Viết:
"Cũng tả nỗi nhớ có nhiều câu thực là thấm thía.Ví dụ bài hát quen thuộc này:
                                Đêm qua ra đứng bờ ao
  Trông cá cá lặn,trông sao sao mờ.
                                 Buồn trông con nhện giăng tơ,
   Nhện ơi,nhện hỡi,nhện chờ mối ai
                           Buồn trông chênh chếch sao mai,
                   Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ.
                          Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà
   Mối sầu tinh đẩu đã ba năm tròn.
                          Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
             Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.
Nỗi nhớ tả trong mấy câu thực là man mác chân thành. Nhớ nghĩa là buồn.Người Việt Nam buồn như thế nào? Đọc mấy câu ca dao trên đây, ta đã thấy ngay rằng dù nhớ thực man mác, buồn thực thấm thía, nhưng không phải cái buồn vẫn vơ, vô cớ, tuyệt vọng, hoài nghi, chán nản thường thấy trong một số thanh niên ngày nay. Trái lại đó là một nỗi buồn lành mạnh, khỏe khoắn, nỗi buồn thành thực của những người ham sống-một nỗi buồn trung hậu, chính trực."
@.Cách thứ ba:
        Liệt kê các dẫn chứng cho một ý đã giới thiệu để tự dẫn chứng tô đậm cho những điều cần nói mà không cần phân tích giảng giải.
Ví dụ:
Bà Đặng Thanh Lê khi giảng văn đoạn Trao duyên -Truyện Kiều, đã viết:
"Ở đây là mâu thuẩn giữa mối tình vô hạn,sâu sắc và khác vọng hạnh phúc vô hạn, mãnh liệt "muôn vàn ái ân" với một sự đổ vỡ không có gì cứu vãn nổi:
-Trâm gãy bình tan
-Tơ duyên ngắn ngủi
-Phận bạc như vôi
-Nước chảy hoa trôi
-Thiếp đã phụ chàng
Mâu thuẫn không được giải quyết."
@.Cách thứ tư:
                Dẫn chứng lẫn trong lời văn của người viết,cùng với lời người viết tạo thành một mạch hoàn chỉnh ,thể hiện ý định nói.
Ví dụ:
     Một tác giả khi nói về Truyện Kiều đã viết:
"Nếu Thúy Vân có vẻ đẹp phúc hậu, đoan trang thì trái lại Thúy Kiều lại mang một vẻ đẹp "sắc sảo mặn mà". Nếu Thúy Vân có sắc đẹp kiều diễm với gương mặt đầy đặn như trăng tròn, miệng cười tươi như hoa, tiếng nói trong như ngọc thì Thúy Kiều lại có sắc đẹp "nghiêng nước nghiêng thành"...Nếu như cái đẹp của Thúy Vân khiến cho "Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da'', thì cái đẹp của Thúy Kiều lại khiến cho "Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh".
                @.Những điều cần lưu ý:
Trên đây chỉ là mấy cách đưa dẫn chứng trong bài nghị luận thường dùng. Người viết phải luôn luôn sáng tạo.Tùy theo yêu cầu thực tế của đoạn văn mà dùng cách đưa dẫn chứng nào đã nói ở trên hoặc một cách đưa dẫn chứng khác mà chúng ta tự tạo. Điều cần lưu ý nữa là dẫn chứng phải chọn lọc, tiêu biểu, giữa trích dẫn và lời người phân tích phải luôn gắn kết nhuần nhuyễn, tự nhiên thì mới đem lại hiệu quả thẩm mỹ cao.
   -Khi làm văn nghị luận cần chú ý tỉ lệ giữa dẫn chứng và lí lẽ. Nội dung văn nghị luận bao giờ cũng là lí lẽ và dẫn chứng nhằm thuyết phục người đọc (hiểu và tin).Tuy vậy, trong quá trình viết bài nghị luận,người viết phải tùy từng vấn đề, từng kiểu bài mà xác định tỉ lệ giữa lí lẽ và dẫn chứng cho phù hợp. Bài viết chỉ có lí lẽ (hoặc dẫn chứng quá ít) sẽ trở nên khô khan...tạo cảm giác nặng nề cho người đọc.Trái lại nếu bài nghị luận chỉ toàn dẫn chứng (lí lẽ quá ít) sẽ trở nên hời hợt và nhạt nhẽo gây cho người đọc cảm giác bài viết rỗng, thiếu sâu sắc.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            
II. CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN
    
                            MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
A.Một số vấn đề về nghị luận văn học
Dựa vào nội dung bài đọc và kiến thức đã học trả lời các câu hỏi sau:
                1.Dạng bài nghị luận có những nội dung cơ bản nào?
                2.Thế nào là nghị luận văn học?
                3.Có những dạng nghị luận văn học tiêu biểu nào?
           4.Thế nào là nghị luận về tác phẩm truyện(hoặc đoạn trích)
5.Các yêu cầu đối với một bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)?
6.Thế nào là nghị luận về đoạn thơ, bài thơ?
7.Nêu các yêu cầu đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ bài thơ?
8.Vì sao nói muốn viết được một bài văn nghị luận văn học hay trước hết phải hiểu văn? Cần quan niệm thế nào là hiểu văn?

                                                           NHỮNG ĐIỀU CẦN GHI NHỚ
1.Dạng bài nghị luận có hai nội dung cơ bản: nghị luận xã hội và nghị luận văn học.
2.Nghị luận văn học là trình bày,nhận xét,đánh giá…cho rõ một vấn đề nào đó  trong một tác phẩm văn học cụ thể.
3.Có hai dạng nghị luận văn học tiêu biểu: nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích); nghị luận về một đoạn thơ,bài thơ.
@. Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể.
- Những nhận xét, đánh giá về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa của cốt truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được người viết phát hiện và khái quát.
- Các nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) trong bài nghị luận phải rõ ràng, đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phục.
- bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) cần có bố cục mạch lạc, có lời văn chuẩn xác, gợi cảm.
+ Trong quá trình triển khai các luận điểm, luận cứ, cần thể hiện sự cảm thụ và ý kiến riêng của người viết về tác phẩm.
+ Giữa các phần, các đoạn của bài văn cần có sự liên kết hợp lí, tự nhiên.
@. Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày nhận xét, đánh giá của mình về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy.
+ Nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ được thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu,…Bài nghị luận cần phân tích các yếu tố ấy để có những nhận xét, đánh giá cụ thể, xác đáng.
+ Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần có bố cục mạch lạc, rõ ràng; có lời văn gợi cảm, thể hiện rung động chân thành của người viết.
+ Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần được bố cục mạch lạc theo các phần
+ Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần chứng tỏ có cảm thụ riêng, nêu lên được những nhận xét, đánh giá của người viết. Những nhận xét, đánh giá ấy phải gắn với sự phân tích, bình giá ngôn từ, hình ảnh, giọng điêu, nội dung cảm xúc… của tác phẩm.
4.Muốn viết một bài nghị luận văn học hay cần phải cảm nhận tư tưởng,tình cảm thẩm mỹ được  gởi gắm trong tác phẩm văn học.
  B.Luyện tập:
Tác giả đã gởi gắm tư tưởng, tình cảm gì trong các đoạn trích sau:
Đoạn a:
                Các bạn ạ! Trong những ngày đen tối ấy, người sống phải sống bí mật thì cũng đã đành một lẽ, còn người chết cũng phải chết bí mật nữa. Mộ của anh không thể đắp cao lên được – tìm thấy mồ mả, chúng sẽ đào lên và tìm ra dấu vết. Cho nên ngôi mộ của anh là ngôi mộ bằng, bằng phẳng như mặt rừng vậy. Tôi lấy dao khắc vào một gốc cây rừng cạnh chỗ anh nằm làm dấu cho dễ nhớ.
      Sống như thế và chết như thế, hỏi vậy làm sao mà chịu được? Chúng ta buộc phải cầm súng.
                        (Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng)  
Đoạn b.
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình mình lại thương mình xót xa.
Khi xưa phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
  (Truyện Kiều – Nguyễn Du)


MỘT SỐ CÁCH ĐƯA DẪN CHỨNG TRONG  BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
 A. Một số cách đưa dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học
          Đọc phần II trong nội dung Bài đọc và trả lời một số câu hỏi và bài tập sau.
1.Thực chất của dẫn chứng là gì? Dẫn chứng có tác dụng gì trong văn nghị luận?
2.Có những loại dẫn chứng nào?
3.Nêu một số cách đưa dẫn chứng thường dùng trong bài văn nghị luận mà Bài đọc đã đưa ra?
                NHỮNG ĐIỀU CẦN GHI NHỚ
1.Dẫn chứng là những câu thơ câu văn, câu chuyện những lời nhận xét đánh giá…Trong sử sách hay trong cuộc sống, được vận dụng làm cho điều ta giải thích, phân tích, chứng minh thêm sáng tỏ.
2. Có hai loại dẫn chứng: dẫn chứng bắt buộc và dẫn chứng mở rộng (liên hệ, so sánh)
3. Một số cách đưa dẫn chứng thường dùng trong bài văn nghị luận:
a. Nêu vấn đề phân tích trước rồi đưa dẫn chứng minh họa.
b. Đưa dẫn chứng hoặc giới thiệu dẫn chứng rồi trích ngay sau đó mới bình giá, phân tích.
c. Liệt kê các dẫn chứng cho một ý đã giới thiệu để tự dẫn chứng tô đậm cho những điều cần nói mà không cần phân tích, giảng giải.
d. Dẫn chứng lẫn trong lời văn của người viết, cùng với lời người viết tạo thành một mạch hoàn chỉnh, thể hiện ý định nói.
B. LUYỆN TẬP
Bài 1: Đọc và xác định cách đưa dẫn chứng trong các đoạn văn nghị luận sau:
Đoạn a: 
"Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bui bay"
Đây là khổ thơ giàu chất tạo hình nhất trong bài thơ "Ông đồ''. Bằng bản tính kiên nhẫn, bằng chút hy vọng mong manh vào cuộc đời (và cả bằng gắng gỏi trong miếng cơm manh áo nữa) ông đồ vẫn ngồi đấy, phố vẫn đông người qua.Chỉ khác là lúc này ''Không ai hay'' sự có mặt của ông nữa.Còn đâu cảnh xúm xít, còn đâu bao lời tấm tắc ngợi khen quanh ông.Thủ pháp tương phản được vận dụng tự nhiên:Cái ''tĩnh'' càng trở nên lặng hơn bên cái ''động'', cái ''một'' càng trở nên cô đơn, vón cục lại trước cái ''nhiều'', cái náo nhiệt.Trước mắt ta, ông đồ ngồi bó gối bên vỉa hè.Lá vàng rơi trên giấy không buồn nhặt. Mắt ngơ ngác buồn rầu nhìn ra màn mưa bụi mịt mờ. Một không gian cảnh, một không gian người hiện lên mồn một như cảnh phim nổi đặc tả đầy sức gợi.
(Theo Lê Quang Hưng trong tinh hoa thơ mới -thẩm bình và suy ngẫm)
Đoạn b
      ''Tôi cho rằng, một trong những nét đặc sắc của bài Sang Thu là có hai hệ thống tín hiệu báo mùa có vẻ phản trái nhau, song cả hai đều thuộc về thần thái của mùa thu.Tạm đặt tên là nhịp mạnh và nhịp nhẹ. Nhịp mạnh bao gồm những động thái, sắc thái giàu dương tính (mạnh, nhanh, nhiều)
          -hương ổi phả
-chim vội vã
-vẫn còn bao nhiêu nắng...
Nhịp nhẹ thì nghiêng về âm tính (êm,chậm,ít...):
-sương chùng chình
-sông dềnh dàng
-mưa vơi dần...
(TS.Chu Văn Sơn-Vẻ đẹp văn học cách mạng)
Đoạn c.
      ''Và họ đã cùng trụ vững. Khi đã hiểu, đã yêu thương, đã kết lại làm một trong mối tình đồng chí mà họ đã cảm và hiểu đầy đủ và sâu sắc, những người nông dân ''gặp nhau hồi chưa biết chữ-quen nhau từ thuở một hai''...ấy đã thực sự hoàn thiện vẻ đẹp của người chiến sĩ, của anh bộ đội Cụ Hồ. Hình ảnh những con người giữa ''rừng hoang sương muối'' đứng vững trong tư thế ''chờ giặc tới'' mà vẫn thấy rất nên thơ, rất thanh thản ''treo'' trên đầu súng một vành trăng, hình ảnh ấy từ lâu trở thành một biểu tượng chiến đấu, một biểu tượng thơ.
                     (Trịnh Bích Ba-Đồng chí-một tên gọi, một chặng đường)
Đoạn d.
    "Nhà thơ đối diện với vầng trăng cũng là đối diện với chính lương tâm mình.Đây là sự đối diện giữa thủy chung và bội bạc, giữa lòng vị tha và thói ích kỉ, là sự dối diện giữa quá khứ và hiện tại.Và trên hết sự đối diện bất ngờ nhưng tất yếu này đã trả lại trong tâm hồn nhà thơ những cảm xúc nguyên sơ:
                Có cái gì rưng rưng
                như là đồng là bể
                như là sông là rừng.''
                   (Lưu Đức Hạnh)

Bài 2:
Câu a:
Đoạn văn sau đây có cách đưa dẫn chứng giống với đoạn nào ở bài tập 1?
''...Tiếp theo nỗi buồn nhớ vô hạn đó, Kiều đã suy nghĩ về thân phạn ''bèo dạt mây trôi ''của mình.
                Buồn trông ngọn nước mới sa
       Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Nguyễn Du đã diễn tả rất chính xác nỗi buồn của nàng, một nỗi buồn man mác dâng đầy theo tâm trạng, chứa đựng hình ảnh rất gợi cảm.Thân phận nàng cũng giống như cách hoa kia, bị cuốn trôi theo dòng nước ''biết là về đâu?''
              (Bồi dưỡng Ngữ văn THCS trang 136)
Câu b: Em hãy đặt tên cách đưa dẫn chứng trong đoạn văn nghị luận trên?
Bài 3: Nhận xét cách đưa dẫn chứng trong các phần trích sau?
Đoạn a.
     ''Tâm hồn của tác giả hòa vào mùa xuân đất nước, thôi thúc từng hồi, mạnh mẽ nhưng âm thầm, lặng lẽ:
                Một mùa xuân nho nhỏ
                Lặng lẽ dâng cho đời
                Dù là tuổi hai mươi
                Dù là khi tóc bạc.
Đầu đề của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ là như vậy. Mùa xuân nho nhỏ trong mùa xuân lớn lao của đất nước. Đó là ước nguyện của tác giả, nguyện sẽ mãi mãi được làm việc, được hy sinh, cống hiến.Tác giả muốn góp vào mùa xuân chút công sức nhỏ bé của mình.Đó là ý thích, là niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp, cũng là tấm lòng chân tình của tác giả.Tác giả không mơ ước xa xôi:
                                Một mùa xuân nho nhỏ
Vâng!Mùa xuân nho nhỏ, rất nhỏ nhưng lại có ý nghĩa lớn lao. Bởi tấm lòng tác giả luôn hướng tới sự cống hiến tốt đẹp, bởi một mùa xuân nho nhỏ sẽ vẽ lên mùa xuân đất trời rộng lớn. Mùa xuân của tác giả chẳng ồn ào, náo nhiệt mà âm thầm lặng lẽ hiến dâng, chẳng phô trương, không cần ai biết đến:
                                Lặng lẽ dâng cho đời
Ý thức của tác giả từ một ước nguyện hy sinh, thể hiện sâu sắc hơn bởi tấm lòng nhân hậu, muốn giúp đời trong âm thầm lặng lẽ.
                                Dù là tuổi hai mươi
                                Dù là khi tóc bạc ''
Đoạn b. Vũ Nho khi bình một bài ca dao, ông viết.
''Con dao vàng rọc lá trầu vàng
Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa
Câu ca dao nói rất rõ cái gọi là ''giới tính'' của hai người. Anh táo bạo, sôi nổi, bồng bột cho nên ''liếc''.Còn nàng là con gái vốn kín đáo thùy mị hơn nên chỉ ''đưa'' thôi. Nhưng hiệu quả thì chắc gì ai đã hơn ai.Đôi mắt ''Sắc như dao cau''.Với cặp mắt ấy chỉ cần ''đưa'' nhẹ cũng đã cắt vào tận tim của đối tượng. Đây lời thú nhận của chàng trai về sức ''công phá''''quyến rũ '' của mắt em:
Hoa thơm hoa ở trên cây
Đôi con mắt em lúng liếng dạ anh say lừ đừ.
Bài 4:Sưu tầm những đoạn văn nghị luận có dẫn chứng và nhận xét cách đưa dẫn chứng trong từng đoạn văn đó.


LUYỆN TẬP
ĐƯA DẪN CHỨNG TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

*Hướng dẫn luyện tập
Bài 1
-Xác định dẫn chứng bắt buộc và dẫn chứng mở rộng trong đoạn nghị luận sau? Có thể thay các dẫn chứng bắt buột đó bằng những dẫn chứng khác được không? Vì sao?
''Và họ đã cùng trụ vững. Khi đã hiểu, đã yêu thương, đã kết lại làm một trong mối tình đồng chí mà họ đã cảm và hiểu đầy đủ và sâu sắc, những người nông dân ''gặp nhau hồi chưa biết chữ-quen nhau từ thuở một hai''...ấy đã thực sự hoàn thiện vẻ đẹp của người chiến sĩ, của anh bộ đội Cụ Hồ. Hình ảnh những con người giữa ''rừng hoang sương muối'' đứng vững trong tư thế ''chờ giặc tới'' mà vẫn thấy rất nên thơ, rất thanh thản ''treo'' trên đầu súng một vành trăng, hình ảnh ấy từ lâu trở thành một biểu tượng chiến đấu, một biểu tượng thơ.
                     (Trịnh Bích Ba-Đồng ch í-một tên gọi, một chặng đường)
Bài 2: Để viết được đoạn văn có hai loại dẫn chứng trên người viết cần phải làm gì?
Bài 3:
Tìm dẫn chứng mở rộng và đưa dẫn chứng đó vào đoạn văn nghị luận theo yêu cầu sau?
a.Viết một đoạn văn ngắn phân tích hình ảnh mặt trời trong hai câu thơ sau:
                Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng.
            (Nguyễn Khoa Điềm)
b.Viết một đoạn văn bình một khổ thơ mà em yêu thích trong bài thơ ''Mùa xuân nho nhỏ'' của Thanh Hải.
c.Viết một đoạn văn ngắn nêu cảm nhận của em về hai câu thơ sau:
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru
    (Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa – Nguyễn Duy)
Bài 4: Từ câu thơ “Lại đi, lại đi trời xanh thêm” trong bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật; hãy viết một đoạn văn nghị luận, dẫn chứng theo một trong các cách đã nêu? Giải thích cách đưa dẫn chứng? Vì sao em chọn cách đưa dẫn chứng đó?

LUYỆN TẬP
ĐƯA DẪN CHỨNG TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
(Tiếp theo)
LUYỆN TẬP
Bài tập 1.
Có thể dùng những dẫn chứng sau để đưa dẫn chứng mở rộng cho nội dung văn bản nào?
Phần a.
            Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước                                          
                Mà lòng phơi phới dậy tương lai
                                 Tố Hữu
 Vẫn đôi dép lội chiến Trường
                 Vẫn vành mũ lá coi thường hiểm nguy
                 (Tiếng hát sang xuân-Tố Hữu)
 Ai cũng tiếc tuổi hai mươi
                  Làm gì còn Tổ quốc
                              ***
 Ta muốn hỏi Trường Sơn
                 Có đỉnh nào cao hơn
                 Chiếc mũ kia của chủ nghĩa anh hùng cách mạng
                    Bài ca xuân 61-Tố Hữu
   Bác Hồ đã vĩnh biệt chúng ta. Bác ơi! Chúng con thề chiến đấu để thực hiện cho bằng được nguyện vọng sự nghiệp mà Bác còn bỏ dở: Giải phóng miền Nam và dành độc lập tự do cho Tổ quốc.
                             (Nhật kí Đặng Thùy trâm)
                                ***
Thiếu tất cả ta rất giàu dũng khí
Sống chẳng cúi đầu chết vẫn ung dung
Giặc muốn ta nô lệ ta lại hóa anh hùng
Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo
                       ***
           Có những ngày vui sao
           Cả nước lên dường
            Xao xuyến bờ tre từng hồi trống dục
                             (Chính Hữu)
                                ***
Phần b.
           Lá tre đã thả một mùa heo mây
Con sông không ốm mà gầy
Mắt em chưa tối đã đầy hoàng hôn
(Diệp Minh Tuyền)
                         ***
         Chỉ mùa thu tròn vẹn nhớ thương
Hương hoa sữa cứ trở về mỗi độ
                                (Nguyễn Phan Hách)
                           ***
           Thu sang trên những cành bàng
Chỉ còn hai chiếc lá vàng mà thôi
                  (Nguyễn Bính)
                            ***
           Nắng thu đang trải đầy
Đã trăng non múi bưởi
Bên cầu con nghé đợi
Cả chiều thu sang sông
                        ( Hữu Thỉnh)
                          ***
           Đơn sơ thu đã đến cùng ta
Một sắc trời trong một ít hoa
Một ánh trăng thanh yêu đến mức
Muốn lẫn vào thu để khỏi xa
                                         (Phạm Hổ)
               
           Xanh lên đã kiệt sức hè
Nắng hồng theo lối hồn về lìa ngăn
Vườn chiều rộn lá thu sang.
Heo mây ngậm mảnh trăng vàng rong chơi.
 (Thu sang – Đỗ Trọng Khơi)
                           ***
Phần c.
           Là chân lí, Bác chẳng nói nhiều hơn chân lí
Cả nước nghe khi im lặng Bác cười
Đâu phải lật sách ra mới tìm thấy Bác
Bác sống trong ta, Bác ở giữa đời
                   ***
           Mùa thu đầu thiếu Bác
Đau một sắc trăng ngời
Bác để vầng trăng sáng
Vui triệu cháu mồ côi
                  ***
           Linh cửu chói ngời như đau thương như ánh sáng
Dân tộc mang theo bên mình vượt bể thời gian...
                 ***
Thiên thu im lìm, thiên thu tĩnh lặng
Bác nằm bên trong ta đi ở bên ngoài...
Khi dân tộc có điều muốn hỏi
Ta quay nhìn về đây, chờ đợi
Chói ngời ở đấy, một niềm tin.
(Trích Hoa trước lăng Người-Chế Lan Viên)
           ***
           Tiếc rằng trước lúc chia li
Con chưa được thấy dáng đi của Người
                     ***
Mà con trông đợi Bác vô
Ngắm phương Bắc nhớ thủ đô quặn lòng
                      ***
Gửi lòng con đến cùng Cha
Chiến công đất nước kết hoa triệu vòng.
                        ***
Con đi dưới một vòm trời
Đau thương nhưng vẫn sáng ngời niềm tin
(Trích Gởi lòng con đến cùng Cha-Thu Bồn)
           Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác nỗi mong Cha
                            (Tố Hữu)
          Xin nhớ từ đây nhớ lại ngày
          Bác Hồ từ giã cõi hôm nay
       Bảy mươi chín tuổi xuân trong sáng
       Vào cuộc trường sinh nhẹ cánh bay
               (Theo chân Bác-Tố Hữu)
Phần d:
              Qua sông nhớ mãi con đò,
              Chiều quê nắng nhạt, cánh cò nhẹ tênh;
             Mây xanh dăm vệt bồng bềnh,
             Cánh diều ai thả chung chênh  cuối làng.
                                     ***
              Mát hơn ca dao là bến nước làng tôi
             Nơi con đò đưa khách qua sông êm như đưa võng
             Nơi tiễn những con thuyền ra biển rộng
            Nơi tôi sinh ra trong khúc hát đò đưa…
                                   (Bến quê-Tạ Hữu Yên)
                                    ***
                     Cây đa, bến nước, mái đình,
              Nghìn năm sâu đậm nghĩa tình quê hương.
                                                      (Ca dao)
             
Bài tập 2:
Vận dụng những dẫn chứng trên để đưa vào một đoạn văn nghị luận mà em yêu thích.
Bài tập 3: Sưu tầm dẫn chứng mở rộng để đưa vào bài văn nghị luận về các tác phẩm truyện và thơ trong chương trình Ngữ văn lớp 9.
Bài tập 4:
a.Viết đoạn văn bình một khổ thơ mà em yêu thích, trong bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương và chỉ rõ đoạn văn đã vận dụng cách đưa dẫn chứng nào?
b.Viết đoạn văn nghị luận về một vấn đề văn học mà em yêu thích đưa dẫn chứng bằng cách không trùng với 4 cách đã nêu.

VIẾT BÀI KIỂM TRA

Gợi ý một số đề bài tham khảo:
Đề 1:Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải để thấy được “Khát vọng dâng hiến một mùa xuân vĩnh hằng
Đề 2: Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã viết Chỉ cần trong xe có một trái tim trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính khép lại bao nhiêu khó khăn gian khổ một thời đánh giặc.
         Trình bày suy nghĩ của em về sức mạnh của tình yêu nước.
    (Đề thi chọn HSG lớp 9 năm 2006 – 2007 của SGD & ĐT Hải Phòng)
Đề 3: Phân tích vẻ đẹp nghệ thuật của bài thơ ''Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ'' của Nguyễn Khoa Điềm.
Đề 4: Từ bài thơ ''Con cò '' của Chế Lan Viên, hãy phát biểu suy nghĩ về tình mẹ và lời ru của mẹ.
Đề 5: Phân tích bài thơ “Viếng lăng Bác” để thấy được tấm lòng thành kính thiết tha của nhà thơ đối với Bác.
Đề 6: Phân tích vẻ đẹp thiêng liêng của tình mẫu tử trong bài thơ ''Mây và sóng'' của nhà thơ Ta-go.
Đề 7: Phân tích tâm trạng và suy nghĩ của nhân vật Nhĩ về bãi bồi bên kia sông.(Bến quê – Nguyễn Minh Châu)
Đề 8: Cảm nhận của em về vẻ đẹp của ba cô gái trong truyện ngắn ''Những ngôi sao xa xôi'' của Lê Minh Khuê.
Đề 9:  Phân tích nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật của Nguyễn Du qua đoạn trích “Kiều ở Lầu Ngưng Bích”.
Đề 10: Những ngôi sao xa xôi - hình ảnh đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mỹ.
Đề 11: Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang sáng là chiếc lược của tình phụ tử.
Đề 12: Cảm nhận vẻ đẹp của hình ảnh nắng trong những câu thơ sau:
      Ông trời nổi lửa đằng đông                                  Nắng ửng chòm tre gió thoảng đưa
Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay                        Búp non thắp sáng lá cành thưa
      Bố em xách điếu đi cày                                       Chim mang tiếng hót ra hong nắng
Mẹ em tát nước nắng đầy trong khau.                       Tơ nhện vương sương trắng cỏ bờ
(Buổi sáng nhà emTrần Đăng Khoa)                    (Sang xuânHoàng Tố Nguyên)

Nắng tần ngần trên nón trắng chênh chao                 Sao anh không về chơi thôn vĩ?
Nghe gót bước biết lòng biêng biếc lám                    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
(Ghi chép về chiềuThi Hoàng)                               (Đây thôn vĩ dạ - Hàn Mặc Tử)

III.TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngữ văn 9 – tập 2 – sách giáo viên, NXB Giáo dục.
2. Văn học và tuổi trẻ, năm 2008 – NXB Giáo dục – Bộ Giáo dục và Đào tạo.
3. Muốn viết được bài văn hay, Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên),Đỗ Ngọc Thống, Lưu Đức Hạnh - NXB Giáo dục.
4. Nghị luận văn chương; Trần Văn Sáu – Đặng Văn Khương, NXB Trẻ TP. Hồ Chí Minh.
5. Tư liệu Ngữ văn 9; Đỗ Ngọc Thống( chủ biên), NXB Giáo dục.

BÀI TẬP BỔ SUNG
Bài 1: Nhận xét cách đưa dẫn chứng trong các đoạn văn sau?
Đoạn 1:Khi bình về khách viễn phương – Mã Giám Sinh (Truyện Kiều của Nguyễn Du) Vũ Hạnh đã viết:
“Mảnh áo thướt tha của kẻ nhàn du tìm về người đẹp xui ta nghĩ đến một chàng Kim Trọng “Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”Ai bảo trong người của khách viễn phương chẳng có được mấy phần trăm kẻ sĩ? Tấm lòng rộng mở “Sắm sanh nếp tử xe châu” của gã tình nhân chậm trễ khiến ta nhớ lại một chàng họ Thúc cuồng si. Ai bảo trong tâm hồn khách chẳng có ít nhiều một gã phú thương quen thói bốc trời?”
                           (Đọc lại Truyện Kiều – Vũ Hạnh)           
Đoạn 2:
                Tình yêu, hạnh phúc chỉ thực sự có được khi ta biết cất công kiếm tìm, vun đắp. Bởi vì:
Hạnh phúc như ngọc trong đá
Hạnh phúc như ngọc trong hoa
Không đến với ai hời hợt đi qua
Chỉ đến với ai nhọc nhằn tìm thấy.
Chỉ khi nào ta đã từng vượt qua những bước chông chênh của cuộc hành trình, ta mới thấy được niềm vui đến đích. Chỉ khi ta vượt qua phong ba bão táp, ta mới biết trân trọng sự bình yên. Trong tình yêu thương cũng vậy, khi ta đã yêu thương thật lòng, yêu thương chân thành, ta mới biết giữ gìn bão vệ sự chân thật, trong sáng, lâu bền trong tình yêu thương ấy. “Cái gì xuất phát từ trái tim sẽ đến với trái tim” – tình bạn, tình yêu, sự bình yên trong tâm hồn là những điều vô giá, lẽ nào lại bán, lại mua? Và hạnh phúc có lẽ nào lại đến với những tâm hồn khép kín, hời hợt với cuộc sống?
             (Nguyễn Ngọc Như Thảo – Ý nghĩa triết lí của một bài thơ)
Bài 2:
          Viết một bài văn ngắn nêu cảm nhận của em về đoạn thơ sau và giải thích cách đưa dẫn chứng trong bài viết.
Phận hoang đâu dám mộng mơ
Chỉ là hoa dại bên bờ sông thôi
Ngỡ là kiếp cỏ nhỏ nhoi
Mà sao thách đố cả trời bão giông…
(Hoa dại – Nguyễn Thanh Tùng)
Bài 3:
 Câu a    
         Chọn dẫn chứng sau làm dẫn chứng mở rộng để đưa vào một đoạn văn nghị luận về truyện ngắn Làng của Kim Lân.
                            ***
Xa quê hương mới hiểu người biệt xứ
Trên đời này thà mất đi nhiều thứ
Không đau gì bằng nỗi thiếu quê hương
                  (Diệp Minh Tuyền)
                            ***
Quê hương ơi tất cả ở trong tôi
Cái miền đất của những người lam lũ
Có lúa ngô nhọc nhằn theo mùa vụ
Uống mồ hôi mà khôn lớn cho người.
           (Quê hương – Bút nhóm Ban Mai Xanh)

Câu b
Dựa vào nội dung bài thơ Con cò của chế Lan Viên, viết một đoạn văn nghị luận với chủ đề “Những lời ru như cánh cò vỗ mãi”;chọn dẫn chứng sau đây làm dẫn chứng mở rộng.

***
 Con đếm được những đoạn đường đi qua
Đếm những buồn vui dại khờ tuổi trẻ
Đếm tất cả những gì trên đời này có thể
Duy chỉ một điều không đếm nổi, mẹ ơi!...
(Ngô Thị Thanh Nhàn, Văn nghệ trẻ, số 31, 3-8-2003)
***
Cái cò sung chát… đào chua…
   Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người
  Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru
                                (Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa – Nguyễn Duy)

***
Mai này con lớn con khôn
Chân đi muôn dặm-con còn nghe ru.
       (Vũ Quần Phương)
               Mẹ ru con ngủ êm êm
Nhơ ru vũ trụ ngủ trên tay mình.
(Anh Thơ)

                                           TƯ LIỆU THAM KHẢO
                   (Một số đoạn văn nghị luận văn học hay)

1."Thơ là tình cảm là cảm xúc.Thơ không lấy việc tả làm chính, không cạnh tranh với văn xuôi về lượng chi tiết, nhưng thơ không chỉ không cần đến chi tiết, có điều chi tiết trong thơ phải là những chi tiết chọn lọc ở mức nghiệt ngã nhất. Nó cần cái tinh chất của cuộc sống. Sự chọn lọc này, chủ yếu là sự chọn lọc của trái tim. Chi tiết trong thơ phải là những chi tiết biểu hiện nhất, có khả năng rung động được lòng người, gợi được những liên tưởng sâu xa ''Vai áo bạc quàng súng trường'' là thuộc loại những chi tiết như thế.''
                  (Trích Những bài thi chọn học sinh giỏi văn toàn quốc - Nguyễn Sĩ Bá)
 2. ''Cuộc sống với những hiện thực phong phú, phức tạp vừa là đối tượng hướng tới, vừa là nguồn mạch nuôi dưỡng văn học.Quay lưng lại với cuộc sống, mãi mê với chuyện đúc chữ, luyện câu, mọi giá trị văn chương chỉ là thứ kĩ xảo, vờn vẽ. Lục Du người đã viết hàng ngàn câu thơ, lúc sắp mất trối lại cho con, lời trăng trối mang sức nặng chiêm nghiệm của một hồn thơ tài năng, đi trọn cuộc  đời mới thấu hiểu nổi cái lẽ: ''Công phu của thơ là ở ngoài thơ''. Thì ra, sức nặng của trang thơ, của những con chữ lại chính là ở cuộc đời đầy nắng gió ngoài kia. Nhà thơ phải đến đó, phải tìm đến đó để ngòi bút viết lên từ thứ mực chưng cất từ chính cuộc đời đầy phức tạp, bộn bề bao âm thanh của mọi số phận. Văn học ra đời từ cuộc sống một cách tự nhiên như đã trở thành qui luật thông lệ, nó quay trở về để khám phá, thể hiện lại cuộc sống.''...
                (Trích Những bài thi chọn học sinh giỏi văn toàn quốc - Nguyễn Sĩ Bá)
          
3. Sống trong dòng chảy ngọt ngào của thơ ca, con người tắm mình trong tình cảm của nhà thơ và của chính mình.Thơ ca thấm vào lòng người đọc bởi những cảm xúc trực tiếp và nhiều mối liên tưởng kín đáo, bằng ý tứ sâu xa và sức quyến rũ của tiết tấu, thanh điệu...Tất cả, tất cả cùng một lúc ùa vào, tràn ngập trong lòng người đọc, xóa đi hay khắc sâu thêm những tình cảm con người: Những nhỏ nhen ích kỉ bị loại bỏ, những gì đẹp đẽ, cao quí được tôn lên.Tâm hồn của con người sống với thơ sẽ được thanh lọc (Aristôt) để trở nên trong sáng hơn, cao thượng hơn.Sống với thơ, con người sẽ tìm được sự yên tĩnh trong tâm hồn, sẽ được nghỉ ngơi, nhưng cũng chính lúc đó, con người tiếp tục cuộc hành trình lên đường đời để lớn hơn, khôn hơn...
   (Trích -Bài giải nhất kì thi chọn học sinh giỏi toàn quốc năm học 1986-1987)
4.  ''Văn Nguyên Hồng bao giờ cũng lấp lánh sự sống. Những dòng chữ đầy chi tiết cứ cựa quậy, phập phồng. Một thứ văn bám riết lấy cuộc đời, quấn quýt lấy con người.Người ta thường nói nhà văn, nhà thơ cần có ba yếu tố chủ quan:Tài, trí và tâm. Có cây bút chỉ mạnh về tài, về trí.Đọc Nguyên Hồng, thấy tài và tâm, nhất là tâm, nổi lên hàng đầu. Mà ''Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài'', ở những nhà văn chân chính xưa nay, tâm bao giờ cũng là cái gốc.Tài và trí chỉ là cành, là ngọn. Nguyên Hồng viết văn như là đặt luôn cái ''tâm'' nóng hổi của mình trên trang sách. Nếu cần nói thật khái quát một cái gì chung nhất cho mọi chủ đề tác phẩm của Nguyên Hồng, đó là lòng nhân đạo, một chủ nghĩa nhân đạo bao giờ cũng thống thiết mãnh liệt.''
     (Nguyễn Đăng Mạnh,Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, NXBGiáo dục,2002)
5. “Chỉ cần chúng ta có một trái tim đôn hậu, một trái tim mẫn cảm, một trái tim chân thành để xem xét mọi sự vật trên thế giới, thì các sự vật này cũng sẽ nảy sinh biến hóa lớn trong lòng chúng ta.Tình trạng này đúng như Lưu Hiệp đã nói: ''Lên non thì tình đầy non ,ngắm biển mà ý tràn khắp biển.'' Và như vậy chúng ta sẽ có thể có được sự cảm thụ lớn hơn, thể nghiệm nhiều hơn, và tình cảm phong phú hơn mọi người.Tình cảm được tích lũy giàu lên sẽ là một thứ tài sản chứa đựng trong tim ta, mãi mãi phát huy tác dụng, không chừng ngày nào đó lúc nào đó, do rung cảm này mà dẫn tới nguồn cảm xúc sáng tác...''
(Nguyễn Quốc Siêu)
6. ''Tình cảm dồi dào có thể khiến độc giả hiểu rõ cái lí, rung cảm cái tình.Tác dụng chủ yếu của văn nghị luận là ở chỗ thuyết phục con người, tức là làm cho họ hiểu rõ cái lí, vấn đề phân tích sâu sắc, lí lẽ trình bày rõ ràng thì người ta sẽ tin theo.Thế nhưng lí tính thường là khô khan, vô vị và lạnh lùng, thiếu sức truyền cảm. Nếu như trong làm văn nghị luận mà chú ý đến sắc thái tình cảm sẽ nảy sinh các tình huống khác nhau.Tức là trong nghị luận tràn đầy tình cảm thì trong tình cảm cũng lại ẩn chứa cái triết lí.Và thế là trong lí có tình, trong tình có lí và đạt được mục đích làm cho người đọc hiểu rõ cái lí và rung động trước cái tình. Đọc những bài văn như thế sẽ khiến ta tiếp thụ hai tầng giáo dục, từ đó tin theo một cách mãn nguyện.''
                                                                 (Nguyễn Quốc Siêu)

  (Chuyên đề được hoàn thiện trên cơ sở nội dung đề xuất tại văn bản“Nghị luận văn học và một số cách đưa dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học”của tác giả: Đoàn Thị Nhung – Giáo viên trường THCS Nguyễn Viết Xuân, Phòng GD&ĐT Tiên Phước)